Nhân sâm Hoa Kỳ

Nhân sâm Hoa Kỳ (American Ginseng) còn gọi là sâm Tây Dương, sâm Hoa Kỳ, sâm Mỹ, sâm Canada, sâm Bắc Mỹ. Loại sâm này sinh trưởng tự nhiên ở vùng Bắc Mỹ (chủ yếu là Canada và Hoa Kỳ).

nhân sâm hoa kỳ

nhân sâm hoa kỳ

Theo Đông y: nhân sâm Hoa Kỳ có mùi thơm, vị hơi ngọt, đắng nhẹ, hơi the và có tính mát. Qui kinh: Tâm, Phế, Thận.

Nhân sâm Hoa Kỳ

Nhân sâm Hoa Kỳ có công dụng: bổ khí, dưỡng âm, thanh hư nhiệt, sinh tân dịch, trừ phiền khát. Thường được dùng để trị các chứng khí hư, âm suy hỏa vượng, khái suyễn đàm huyết, hư nhiệt phiền táo, nội nhiệt tiêu khát, miệng táo họng khô.

Sâm Hoa Kỳ cũng công hiệu tương tự như nhân sâm châu Á (sâm Cao Ly, sâm Hàn Quốc, sâm Trung Quốc, sâm Nhật Bản). Tuy nhiên, do có tính mát, lại bổ khí và nhuận táo nên sâm Hoa Kỳ có thể dùng cho những người thể ôn nhiệt, trong khi sâm châu Á tuy đại bổ nguyên khí nhưng tính ôn táo, dễ gây “thượng hỏa”, khiến những người thể ôn nhiệt không thể tiếp nhận.

Từ đặc tính khác các loại sâm Châu Á này mà nhân sâm Hoa Kỳ có thể dùng được cho những người bị cao huyết áp thể “hư nhược” hay thể “âm hư nội nhiệt” với liều lượng hợp lý. Còn sâm châu Á lại không thích hợp cho các trường hợp cao huyết áp. sâm Hoa Kỳ thể hiện ưu điểm nổi bật khi được dùng cho các trường hợp sau:

1. Giảm thiểu tác dụng phụ do điều trị ung thư bằng phóng xạ: Những bệnh nhân điều trị ung thư bằng phóng xạ (xạ trị) thường có các triệu chứng mà Đông y gọi là “âm hư, nội nhiệt” (nóng nhiệt bên trong do phần âm của cơ thể bị hư hao). Để hạn chế tác dụng phụ của xạ trị, trước khi tiến hành xạ trị 15 ngày và sau khi xạ trị, bệnh nhân có thể dùng sâm Hoa Kỳ 5-10g sắc uống mỗi ngày.

2. Viêm phổi, viêm phế quản: Những người bị viêm phổi hay viêm phế quản thể “âm hư, hỏa vượng” có biểu hiện như: nóng lòng bàn chân và bàn tay, ho, có đờm vàng đặc hoặc đờm có lẫn máu. Mỗi ngày có thể dùng 5-8g sâm Hoa Kỳ sắc uống, sau khi uống nước ăn luôn cả lát sâm.

3. Giai đoạn phục hồi sau khi ốm nặng: Đối với những người có biểu hiện thuộc chứng “âm hư” như: miệng khô, khát nước, đại tiện táo bón, tiểu gắt buốt… Mỗi ngày có thể dùng 5-8g sâm Hoa Kỳ sắc uống.

Theo dược lý hiện đại: Nhân sâm Hoa Kỳ có thành phần chủ yếu: Panaquilon. Saponins, có những tác dụng sau:

  • Chấn tĩnh, chống căng thẳng thần kinh quá mức, giảm bớt sự phiền não, tăng sức bền thể lực, chống mệt mỏi suy nhược, tăng khả năng tập trung và ghi nhớ, an thần.
  • Thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục, tăng khả năng chịu đựng của cơ thể trong điều kiện thiếu ôxy, chống lão hóa.
  • Điều hòa hoạt động của hệ tim mạch, chống sốc do suy nhược và mất máu, chống thiếu máu cơ tim và rối loạn nhịp tim.
  • Điều chỉnh rối loạn lipid máu: Giảm cholesterol và lipoprotein có tỷ trọng thấp, tăng lipoprotein có tỷ trọng cao, chống sự hình thành các gốc tự do, chống tan máu và có khả năng cầm máu.
  • Ổn định đường huyết: kích thích tuyến tụy điều tiết insulin, tăng cường chuyển hóa đường
  • Tăng cường chức năng miễn dịch, nâng cao sức đề kháng của cơ thể, phòng chống ung thư.

Nhân sâm Hoa Kỳ là loại sâm tương đối “lành tính” và mát, dễ dùng an toàn với tất cả mọi người.

Các loại sâm nói chung đều giúp tăng lực, giảm mệt mỏi nhờ các thành phần ginsenoside có nhiều trong củ sâm.

Nhân sâm Hoa kỳ được sử dụng ở các dạng: Củ khô, thái lát khô, bột khô để tiềm với các loại thảo mộc và thịt, nấu cháo, uống trà, ngâm rượu, …

Lưu ý: Không dùng cho người có chứng dương hư, hàn thấp ở tràng vị, tỳ vị hư hàn với các triệu chứng như: sợ lạnh, chân tay lanh, phù, đại tiện phân lỏng). Không dùng chung với Lê Lô (tên một vị thuốc trong Đông y) hoặc củ cải trắng.

Nguồn: Ngũ Vị

Sâm Mỹ và tuổi trung niên

Nhân sâm Hàn Quốc và nhân sâm Hoa Kỳ ( Sâm Mỹ) đều là những loại sâm hàng đầu Thế giới. Các loại sâm nói chung đều giúp tăng lực, giảm mệt mỏi nhờ các thành phần ginsenoside có nhiều trong củ sâm.

Do các thành phần ginsenoside của hai loại sâm nói trên có sự khác nhau (sâm Hàn Quốc chủ yếu là Rg và Rh; sâm Hoa Kỳ thì chủ yếu là Rb1) nên dẫn đến tính chất khác biệt khi sử dụng lâu dài: sâm Triểu Tiên dùng lâu gây nóng, trong khi nhân sâm Hoa Kỳ có tính mát và giúp trấn tĩnh tinh thần.

sâm mỹ và tuổi trung niên

Sâm Mỹ và tuổi trung niên

Vào tuổi trung niên, con người thường sẽ xuất hiện những bệnh bao gồm: cao huyết áp, tiểu đường, tăng cân, béo phì, lão hóa, tăng nếp nhăn trên da … làm giảm sức khỏe, chất lượng sống.

Cao huyết áp: nhiều người cho rằng dùng sâm sẽ làm huyết áp tăng cao. Thật ra, nếu dùng sâm Triều Tiên có thành phần Rg gây co mạch, hưng phấn thần kinh thì dùng lâu ngày có thể ảnh hưởng đến huyết áp, trong khi nhân sâm Hoa Kỳ với thành phần Rb1 có tính chống co thắt, giúp trấn tĩnh, an thần, nên sẽ hữu ích cho người cao huyết áp khi dùng với liều lượng thích hợp.

Tiểu đường: sâm Mỹ có chứa thành phần panaquilon, saponin giúp ổn định đường huyết: kích thích tuyến tụy điều tiết insulin, tăng cường chuyển hóa đường, nên cũng rất tốt khi dùng cho người bệnh tiểu đường. Ngoài ra, còn hữu ích cho mục tiêu chống suy nhược cơ thể thường thấy trong bệnh lý này.

Tăng cân, béo phì: rất nhiều sản phẩm giảm cân có chứa sâm, do bởi tiến trình giảm cân kèm giảm khẩu phần ăn nhưng lại cần đảm bảo năng lượng để cơ thể không bị mệt mỏi, thì sâm Hoa Kỳ là một lựa chọn thích hợp để không cung cấp thêm chất béo nhưng vẫn đảm bảo đủ năng lượng cho người có chế độ ăn kiêng.

Tiền mãn kinh ở nữ giới: khi vào tuổi trung niên và trải qua giai đoạn tiền mãn kinh, dấu hiệu “bốc hỏa” là khá phổ biến, kèm mệt mỏi cho chị em trong giai đoạn này. Sâm Mỹ với tính mát, cung cấp dưỡng chất quý chống mệt mỏi sẽ rất thích hợp để các nữ doanh nhân duy trì phong độ và sắc vóc.

Lão hóa, tăng nếp nhăn:

Vào tuổi trung niên, tốc độ lão hóa tăng nhanh hơn, làn da xuất hiện nếp nhăn nhiều hơn và giảm độ sáng da. Nhân sâm Mỹ giúp máu dưới da lưu thông tốt hơn, làm da sáng căng hơn, chống nhăn và giảm tốc độ lão hóa.

Nhân sâm Mỹ – Panax quinquefolius – đã được chứng minh là chống trầm cảm, cân bằng lượng đường trong máu, hỗ trợ suy tiêu hóa do lo lắng, cải thiện sự tập trung và tăng cường hệ thống miễn dịch.

Với một số đặc tính riêng, nhân sâm Mỹ là loại thực phẩm hỗ trợ sức khỏe không thể thiếu cho tuổi trung niên. Sử dụng nhân sâm Mỹ giúp bạn vượt qua mệt mỏi, duy trì phong độ, chống lão hóa, hạn chế bệnh tật và sống vui khỏe.

Sâm Mỹ khô thái lát rất tiện sử dụng để pha cùng trà hay đơn giản là pha với nước sôi, hoặc dùng để nấu cháo, nấu món tiềm hầm với sâm Mỹ như tiềm gà, hầm với sườn, … rất ngon và bổ dưỡng.

Xem thêm về Sâm Mỹ

Đông trùng hạ thảo

Đông trùng hạ thảo là một trong những dược liệu quý hiếm nhất và được người tiêu dùng mua sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu về sức khỏe.

Đông trùng hạ thảo – về cơ bản – là một dạng cộng sinh giữa một loài nấm túi có tên khoa học là Cordyceps sinensis (Berk.) Sacc với sâu non (ấu trùng) của một loài côn trùng thuộc chi Hepialus. Khi những loại nấm ký sinh này tấn công vật chủ, chúng sẽ thay thế mô của nó và nảy mầm những thân dài, mảnh mọc bên ngoài cơ thể vật chủ.

Vào mùa đông, nấm bắt đầu ký sinh vào sâu non và làm chết sâu non vì ăn hết chất dinh dưỡng của chúng. Mùa hè ấm áp, nấm bắt đầu mọc ra khỏi sâu như một ngọn cỏ và vươn lên khỏi mặt đất. Đầu của ngọn nấm là một thể đệm (stroma) hình trụ thuôn nhọn, phần còn lại của côn trùng vẫn nằm dưới mặt đất. Đông trùng hạ thảo được thu hái bằng tay, phơi khô và sử dụng.

Đông trùng hạ thảo tự nhiên chỉ phát hiện vào mùa hè ở một số cao nguyên cao hơn mặt biển từ 3500 đến 5000m như các vùng Tây Tạng, Tứ Xuyên, Thanh Hi, Cam Túc, Vân Nam thuộc Trung Quốc.

Phần “thảo” là nấm nhô lên khỏi mặt đất của Đông trùng Hạ thảo tự nhiên

Đông trùng Hạ thảo tự nhiên đã được phơi khô

Tác dụng của đông trùng hạ thảo
Đông Trùng Hạ Thảo chứa Cordycepin, Adenosine, D-manitol, Polysaccharide, Acid amin, nguyên tố Selen, Các acid béo, các nguyên tố vi lượng, giàu vitamin đã tạo nên giá trị về công dụng của đông trùng hạ thảo vô cùng đa dạng, cụ thể:

  • Đông trùng hạ thảo tác dụng bồi bổ cơ thể, giúp tăng cường hệ miễn dịch, tăng sức đề kháng thông qua đó tạo sức khỏe tốt hơn cho người sử dụng.
  • Đông trùng hạ thảo kháng viêm, kháng khuẩn, ngăn ngừa các loại virus viêm gan B, Lao, AIDS xâm nhập vào cơ thể.
  • Chống lão hóa
  • Chống khối u tiềm năng
  • Hỗ trợ điều trị ung thư, hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân điều trị xạ trị.
    Đông trùng hạ thảo bảo vệ tim mạch, hạ huyết áp, chống lại sự thiếu máu cơ tim.
  • Đông trùng hạ thảo điều trị bệnh thận hư, chống lại sự suy thoái thận, điều trị bệnh tiểu đường
  • Đông trùng hạ thảo điều trị liệt dương, di tinh, giúp tăng cường sinh lý.
  • Hỗ trợ điều trị thoái hóa, đau nhức xương khớp.
  • Tác dụng đặc trị ho hen, ho có đờm.

Hiện nay, Đông trùng Hạ thảo tự nhiên vùng Tây Tạng rất đắt đỏ và hiếm nên tình trạng làm giả bằng chất liệu khác khác hoặc dùng nấm nhìn tương tự nhưng không phải đông trùng hạ thảo là rất nhiều. Để tìm mua đúng Đông trùng hạ thảo tự nhiên thật cũng rất rủi ro.

Do đó, một số cơ sở, viện nghiên cứu tại Trung Quốc cũng như Việt Nam đã nghiên cứu nuôi trồng Đông trùng Hạ thảo và đã thành công, nhận định chất lượng đạt từ 60% đến 70% so với Đông trùng Hạ thảo tự nhiên Tây Tạng nhưng giá thành thấp hơn rất nhiều lần, tạo cơ hội cho người cần dùng được dễ dàng dùng Đông trùng Hạ thảo hơn.

Đông trùng Hạ thảo nuôi trồng

Đông trùng Hạ thảo kế hợp với ẩm thực tạo ra những món ăn bổ dưỡng – bài thuốc quý có công dụng rất tốt với khỏe, ví dụ các món tiềm hầm có Đông trùng Hạ thảo.

Ai nên dùng Đông trùng Hạ thảo?

Sở dĩ đông trùng hạ thảo được nhiều người sử dụng như vậy là công dụng tuyệt vời cho sức khỏe. Cụ thể hơn về công dụng của đông trùng hạ thảo giúp chăm sóc, bồi bổ cho hầu hết các đối tượng già trẻ lớn bé:

  • Người đang ốm:

Khi đang bệnh, cơ thể chúng ta sẽ suy giảm thể lực và sức đề kháng. Lúc này, bổ sung trùng thảo sẽ giúp bồi bổ và cơ thể sẽ mau chóng hồi phục. Không những vậy, người khỏe mạnh cũng có thể dùng để phòng bệnh tật.

  • Người yếu sinh lý:

Đông trùng Hạ thảo có công dụng điều trị liệt dương, di tinh, giúp tăng cường sinh lý.

  • Người không hấp thu chất dinh dưỡng, gầy yếu và suy dinh dưỡng:

Có những người dù ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng nhưng không hấp thụ được. Vì vậy, cơ thể sẽ gầy yếu và trông thiếu sức sống. Nếu bạn sử dụng trùng thảo đúng cách, hệ tiêu hóa sẽ được cải thiện và giúp hấp thu tốt, tăng cân nhanh chóng.

  • Người lớn tuổi:

Đối tượng này được khuyến khích sử dụng Đông trùng Hạ thảo nhiều nhất để chống lại các bệnh tật của tuổi già, bồi bổ gân cốt. Công dụng đông trùng hạ thảo với đối tượng này là làm chậm quá trình lão hóa, kích thích ăn ngủ ngon giấc.

Bát trân

Bát trân vốn là một khái niệm, tên gọi xuất hiện từ thời nhà Chu (1121 – 221 trước Công nguyên) thuộc Trung Quốc ngày nay để chỉ tám món trân quý, tám báu vật ẩm thực. Theo thời gian, văn hóa, qua các triều đại, bát trân có sự thay đổi, tuy nhiên vẫn là những món ăn được xếp vào loại quý hiếm, đắt đỏ mà thường chỉ dành cho Vua chúa hoặc tầng lớp thượng lưu.

I. Bát trân triều đại Nhà Chu:

  1. Nước sốt thịt và mỡ phủ trên cơm
  2. Lợn sữa hầm, chiên lửa nhỏ
  3. Thịt cừu hầm tẩm bột chiên giòn
  4. Thịt bò, cừu và thăn hươu nướng
  5. Thịt bò sống và thịt cừu nấu với rượu và đường,
  6. Thịt bò khô tẩm gia vị
  7. Gan cừu
  8. Gan chó (có thể là sói).

Cũng trong thời Nhà Chu, Bát trân cũng còn đề cập đến tám loại gia súc và thịt động vật như:  Cừu, nai sừng tấm, hươu, nai rừng, ngựa, lợn, chó và chó sói.

Bát trân thời Nhà Chu là các loại thực phẩm cùng cách nấu nướng khá đơn giản khá gần gũi cuộc sống hoặc không phải là loại quá quí hiếm như về sau. Có lẽ trước Công nguyên, cuộc sống cũng đơn giản và khó khăn nên các loại thực phẩm trên cũng đã là quý mà dân thường ít được thưởng thức. Tài liệu về bát trân thời kỳ này cũng không cụ thể và chi tiết.

II. Các triều đại Tống – Nguyên – Minh

Bát trân thời nhà Tống:

  • Gan rồng (có thể là gan của cá hoặc tê tê, hoặc gan của rắn, một số ý kiến nghiên cứu cho rằng đó là gan của một con ngựa bạch)
  • Tủy phượng hoàng (có thể là tủy hoặc não của chim trĩ đực vàng),
  • Bào thai báo,
  • Đuôi cá chép (Theo phân tích thì không phải đuôi cá chép, vì đuôi cá chép không có gì đặc biệt, không quý hiếm, có thể là đuôi của tê tê, vì con tê tê đã được gọi là ” cá chép”thời cổ đại),
  • Cú nướng,
  • Môi đười ươi (hoặc thịt khô trên mặt nai sừng tấm),
  • Tay gấu,
  • Ve sầu chiên giòn (?)

Bát trân thời nhà Nguyên: Có tám báu vật của Phương Bắc (hoặc tám báu vật của Mông Cổ):

  1. Pho mát tinh luyện
  2. Rượu sữa ngựa
  3. Móng lạc đà rừng
  4. Môi hươu
  5. Cháo sữa lạc đà
  6. Thiên nga nướng
  7. Sữa của cừu tía
  8. Sữa ngựa

Bát trân thời nhà Minh (giống thời nhà Tống):

  • Gan rồng (có thể là gan của cá hoặc tê tê, hoặc gan của rắn, một số ý kiến nghiên cứu cho rằng đó là gan của một con ngựa bạch)
  • Tủy phượng hoàng (có thể là tủy hoặc não của chim trĩ đực vàng),
  • Bào thai báo,
  • Đuôi cá chép (Theo phân tích thì không phải đuôi cá chép, vì đuôi cá chép không có gì đặc biệt, không quý hiếm, có thể là đuôi của tê tê, vì con tê tê đã được gọi là ” cá chép”thời cổ đại),
  • Cú nướng,
  • Môi đười ươi (thịt khô trên mặt nai sừng tấm),
  • Tay gấu,
  • Ve sầu (có lẽ là pho mát giòn cao cấp hình giống ve sầu)

III. Bát trân thời nhà Thanh: Bát trân của triều đại Nhà Thanh có nhiều khái niệm:

Bát trân (khái niệm chung)

  • Hải sâm
  • Vi cá mập,
  • Xương (loại xương cá giòn sụn)
  • Bụng cá (hoặc bóng cá),
  • Tổ Yến
  • Tay gấu
  • Gân hươu
  • Sâu (chưa rõ ?)

Bát trân của đặc sản núi rừng và sông biển:

  • Núi rừng: Tay gấu, nhung hươu, mũi tê giác hoặc chân voi, bướu, cầy mèo, bào thai báo, vú sư tử.
  • Sông biển: Vi cá mập, bào ngư, môi cá, hải sâm, baba, sò điệp, cá chiên giòn, ếch.

Bát trân của bốn loại thực phẩm:

  • Rừng: Tay gấu, bướu, nấm, môi đười ươi, vòi voi, bào thai báo, đuôi tê giác, gân hươu
  • Biển: Yến sào, vi cá mập, hắc sâm lớn, cá chạch, xương cá, bào ngư, hải cẩu, cá con (chưa rõ)
  • Chim: Nhạn đỏ, chim cút, gà gô, chim sẻ sặc sỡ (có thể là chim công), chim bồ câu rùa, đại bàng đầu đỏ, phi long (một loại chim gọi là gà gô hạt phỉ trong các khu rừng Đông Bắc Trung Quốc),
  • Rau nấm: Nấm hầu thủ, nấm trắng, nấm tre, nấm tổ lừa, nấm bụng dê, nấm hoa, nấm đông cô, hoa loa kèn.

IV. Thời Trung Hoa Dân Quốc:

Thời ttieeps theo sau nhà Thanh, Bát trân trong ẩm thực mỗi vùng một khác và có nhiều loại hơn, nhưng tựu trung theo ẩm thực Bắc Kinh là tám loại sau: Môi đười ươi, Tổ yến, bướu, tay gấu, nấm lớn, bào thai báo, gân nai, ếch

Các vùng khác như Yên Đài, Sơn Đông thì thêm/ thay các loại: Bào ngư, hải sâm, sò điệp, baba, cầy hương mèo, vịt trời, măng tứ xuyên,

V. Thời xưa ở Việt nam (Các triều đại Vua chúa):

Bát trân bao gồm: Nem công, chả phượng, da tê giác, bàn tay gấu, gân nai, môi đười ươi, thịt chân voi và yến sào.

Nhiều trong số Bát trân trước đây giờ là động vật được bảo vệ và nghiêm cấm săn bắn giết hại trên phạm vi Quốc tế, chẳng hạn như gấu, voi, đười ươi, báo, tê giác, tê tê, cú, hải cẩu, cá con, v.v. trên. Ngày nay những con vật tự nhiên này không thể được đưa vào Bát trân.

Do vậy, trong thời hiện đại, khi chưa có những quy định chặt chẽ về bảo tồn động vật quý hiếm, bát trân là:

Tay gấu, tê tê, gân nai, tổ yến, bào ngư, vi cá, hải sâm, sâm cầm

Hiện nay, sau khi có quy định về bảo tồn động vật quý hiếm, ở Việt nam ngày nay có thể đưa ra tám món bát trân như sau:

Gân nai, tổ yến, bào ngư, vi cá, hải sâm, ba ba, sâm cầm, nấm quý

Các loại thực phẩm trên thường được chế biến cùng các loại thảo dược, gia vị quý hiếm như nhân sâm, đông trùng hạ thảo, nấm, sá sùng …

Nguồn bài viết “Bát Trân“: Dược Thiện